Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức sự kiện

Tin tức sự kiện
Thứ 3, Ngày 17/06/2014, 12:00
Thực trạng liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo và định hướng phát triển thời gian tới tại các huyện trồng lúa tỉnh Bến Tre
17/06/2014 |
Nhằm triển khai các nội dung trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đồng triển khai mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, từ ngày 15/4 đến 18/4/2014, Sở Công Thương tổ chức Đoàn đến làm việc và khảo sát một số mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo tại 4 huyện Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại và Giồng Trôm, do ông Nguyễn Văn Hai – Phó Giám đốc Sở Công Thương làm Trưởng đoàn. Cùng đi trong Đoàn có đại diện Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật, Hội Nông dân tỉnh, Liên minh Hợp tác xã, Công ty lương thực Bến Tre và Công ty TNHH lương thực Thịnh Phát.
Ngày 15/4/2014, Đoàn đến làm việc với UBND huyện Ba Tri. Ba Tri có diện tích trồng lúa lớn nhất của tỉnh, năm 2013, diện tích sản xuất lúa là 39.178 ha, năng suất 47,25 tạ/ha, sản lượng đạt 184.875 tấn. Trình độ canh tác của nông dân có bước tiến đáng kể so với trước đây, hầu hết nông dân đã áp dụng biện pháp “3 giảm, 3 tăng” vào sản xuất, sử dụng phân bón được cân nhắc kỹ trên cơ sở theo dõi đồng ruộng, sử dụng bảng so màu lá lúa, sử dụng thuốc BVTV áp dụng theo nguyên tắc “4 đúng”, các khâu làm đất, bơm nước, phun thuốc và thu hoạch lúa được nông dân đầu tư máy móc cơ giới.

Trên địa bàn huyện hiện có 84 cơ sở xay xát gạo, khoảng 490 lao động, giá trị sản xuất năm 2013 đạt 135 tấn. Các cơ sở hoạt động nhỏ lẻ với quy mô hộ gia đình, hoạt động theo hình thức xay xát gia công cho thương lái nên giá trị sản xuất chưa cao. Việc tiêu thụ lúa gạo hiện nay hầu hết đều thông qua thương lái, hàng xáo. Việc mua bán giữa nông dân và thương lái chỉ qua thỏa thuận miệng, thuận mua, vừa bán, không có hợp đồng bằng văn bản. Hiện tại, huyện chưa có những chính sách thỏa đáng để hỗ trợ nông dân đẩy nhanh cơ giới hóa trong sản xuất và cơ sở vật chất phục vụ sau thu hoạch, công tác xây dựng và phát triển thương hiệu còn chậm, xúc tiến thương mại tổ chức còn nhỏ lẻ, thiếu định hướng cụ thể nên hiệu quả còn thấp.

Từ năm 2011 đến nay, huyện đã phối hợp các ngành tỉnh có liên quan và các doanh nghiệp liên kết tài trợ thực hiện mô hình cánh đồng mẫu tại 3 xã: Tân Xuân quy mô 50-78 ha, 80-100 nông dân tham gia, Mỹ Nhơn 139,5ha với 400 nông dân, Mỹ Hòa 35 ha. Các mô hình bước đầu đã giúp cho nông dân giảm được giá thành sản xuất lúa, trình độ kỹ thuật canh tác được nâng lên.

Định hướng hoạt động thời gian tới: Tiếp tục xây dựng cánh đồng mẫu 100 ha tại xã An Hòa Tây; giảm diện tích lúa, chuyển sang trồng cỏ phục vụ chăn nuôi; nghiên cứu mô hình bơm nước bằng điện; giai đoạn đầu đi từ tổ hợp tác, sau đó phát triển lên HTX, đi từ thấp đến cao.

Ngày 16/4/2014, Đoàn đến làm việc với UBND huyện Thạnh Phú. Thạnh Phú có diện tích sản xuất lúa 13.480 ha, năm 2013 năng suất trên 5 tấn/ha, sản lượng 184.875 tấn. Trên địa bàn huyện có 98 cơ sở xay xát gạo, với khoảng 390 lao động, năng suất 38.500 tấn/năm. Các cơ sở hoạt động nhỏ lẻ với quy mô hộ gia đình, hoạt động theo hình thức xay xát gia công cho thương lái nên giá trị sản xuất chưa cao. Thực hiện mô hình liên kết có mô hình tổ hợp tác sản xuất lúa giống xã Quới Điền và Mỹ An; mô hình lúa sạch xã An Nhơn, diện tích 100 ha; mô hình tôm – lúa xã An Điền.

Định hướng hoạt động thời gian tới: Đến năm 2015 giảm diện tích lúa tập trung 2-3 vụ từ 3.000 ha xuống còn 2.500 ha, phấn đấu đến năm 2020 ổn định diện tích gieo trồng 11.000 ha bao gồm cả việc thay đổi cây trồng trên đất lúa nhưng không làm mất năng lực sản xuất lúa; phần giảm diện tích lúa hơn 500 ha ở những vùng manh mún, kém hiệu quả chuyển sang trồng dừa hoặc nuôi trồng thủy sản. Nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu ở xã Quới Điền, An Nhơn, An Điền tạo ra sản phẩm lúa chất lượng cao, năng suất từ 5-6tấn/ha/vụ với sản lượng 55.000-66.000 tấn, đảm bảo người trồng lúa phải có lãi. Đồng thời phát triển và nhân rộng mô hình tôm-lúa với các giống lúa đạt chất lượng và hiệu quả cao.

Ngày 17/4/2014, Đoàn đến làm việc với UBND huyện Bình Đại. Bình Đại có tổng diện tích sản xuất lúa 2.432 ha, sản lượng đạt 18.500 tấn/năm. Trên địa bàn có khoảng 30 nhà máy, cơ sở xay xát và chế biến, công suất chế biến từ 200kg/h – 3T/h. Đa số các nhà máy chế biến sử dụng công nghệ lắp ráp của Việt Nam, Trung Quốc; các sản phẩm chính là gạo, nếp, sản phẩm phụ là cám và trấu. Những năm qua các hộ nông dân trồng lúa đều chịu sự chi phối về giá bởi các thương lái, sau khi thu hoạch, các hộ nông dân liên hệ với thương lái thu mua, thường không có hợp đồng mua bán.

Huyện cũng đã thực hiện mô hình cánh đồng mẫu tại xã Châu Hưng, diện tích 170 ha, sản xuất lúa theo đặt hàng của 02 doanh nghiệp (Công ty lương thực Bến Tre, Công ty TNHH lương thực Thịnh Phát), sử dụng chủ yếu là giống OC 10. Các mô hình thí điểm bước đầu thu được một số kết quả như tiết kiệm chi phí sản xuất, trình độ kỹ thuật canh tác của nông dân được nâng lên nhưng thực tế việc liên kết sản xuất còn lỏng lẻo. Việc tiêu thụ lúa gạo còn xuất hiện khá nhiều tầng nấc trung gian từ người nông dân tới người tiêu dùng trải qua nhiều khâu, dẫn đến tình trạng lợi nhuận phân bổ không công bằng về lợi ích, đối tượng được hưởng phần nhiều ở khâu lưu thông, nhất là thương lái.

Định hướng hoạt động thời gian tới: Mở rộng mô hình cánh đồng mẫu 80-100 ha xã Châu Hưng, Phú Thuận 300 ha, giống OC 10; thành lập tổ hợp tác ở mỗi ấp, từng bước phát triển lên HTX; hình thành vùng nguyên liệu lúa mới theo mô hình lúa – tôm, nghiên cứu giống lúa Nhật.

Ngày 18/4/2014, làm việc với UBND huyện Giồng Trôm. Năm 2013, diện tích gieo trồng lúa (3 vụ) của huyện là 10.643 ha, năng suất bình quân 15,6 tấn/ha, sản lượng đạt 55.483 tấn. Hiện nay nông dân canh tác lúa có sử dụng một số giống mới, cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh, phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương. Tuy nhiên diện tích canh tác của nông dân đa số là nhỏ lẻ, manh mún, bình quân 0,5-0,8 ha/hộ, tập trung ở các xã tiểu vùng I và II.

Trên địa bàn huyện có 61 cơ sở xay xát lúa gạo. Hầu hết các cơ sở xay xát được trang bị thiết bị công nghệ cũ, công suất sản xuất vừa và nhỏ, phục vụ nhu cầu xay xát của các thương lái, hàng xáo địa phương và các hộ gia đình. Các thương lái và hàng xáo đóng vai trò chính trong việc tiêu thụ lúa gạo. Việc thu mua lúa gạo qua tay các thương lái nên người nông dân dễ bị ép giá do một phần thiếu thông tin thị trường, một phần do người nông dân đã ứng trước tiền các thương lái.

Hiện nay, huyện đã xây dựng mô hình cánh đồng mẫu sản xuất lúa tại xã Phong Nẫm, Phong Mỹ với quy mô 210,09 ha, gồm 10 tổ sản xuất, 278 hộ nông dân tham gia; xã Bình Thành diện tích 77,3 ha gồm 04 tổ sản xuất, 103 hộ nông dân tham gia. Hiện nay các mô hình trên đang duy trì hoạt động ổn định, mang lại hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội cho người dân. Tuy nhiên, việc thực hiện liên kết 4 nhà cũng gặp nhiều khó khăn như chi phí sản xuất cao, năng suất lao động thấp, giá bán lúa gạo giảm làm ảnh hưởng lợi nhuận sản xuất lúa của người dân; cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn nhiều hạn chế, mối liên kết giữa doanh nghiệp với người nông dân trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa bền vững; chưa có chính sách thỏa đáng để hỗ trợ nông dân đẩy nhanh cơ giới hóa trong sản xuất; một số nông dân chưa nhận thức tầm quan trọng của sản xuất hàng hóa, chưa tin tưởng vào mô hình thí điểm, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt,…

Định hướng hoạt động thời gian tới: Quy hoạch định hướng xây dựng cánh đồng mẫu lớn sản xuất lúa ở các xã Tiểu vùng I và Tiểu vùng II với quy mô 1.000 ha tập trung ở các xã Bình Thành, Tân Thanh, Hưng Nhượng, Châu Bình, Phong Mỹ, Phong Nẫm, Lương Quới; Thực hiện liên kết 4 nhà từ cánh đồng mẫu sang xây dựng cánh đồng lớn; Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến và đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp nhằm giảm giá thành sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp; Chuyển đổi mô hình tổ chức liên kết sản xuất theo hướng hình thành chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, trong đó lấy người dân là chủ thể chính; Khuyến khích các doanh nghiệp vào đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, cung ứng đầu vào và tiêu thụ nông sản cho người dân; Quan tâm lai tạo các loại giống lúa cho năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo giá trị xuất khẩu.

Qua chuyến công tác tại 4 huyện, Doàn công tác đã rút ra những kết luận chung sau:

1. Về sản xuất: Đặc điểm trong sản xuất lúa gạo hiện nay của tỉnh là sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, thiếu tập trung, mỗi hộ nông dân tự quyết định trên mảnh đất của mình, nên khó áp dụng đồng bộ các biện pháp khuyến khích thích hợp, cũng như ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Do đó, sản xuất thiếu ổn định và chưa phù hợp với nhu cầu thị trường, dẫn đến tiêu thụ gặp khó khăn, làm giảm hiệu quả sản xuất và kinh doanh. Cần có sự liên kết sản xuất ở mức độ quy mô lớn để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, hình thành vùng nguyên liệu chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường, đảm bảo tiêu thụ có hiệu quả và nâng cao thu nhập cho nông dân.

2. Về tiêu thụ: Các doanh nghiệp kinh doanh lúa gạo trong tỉnh, phần lớn mua lúa gạo tại kho để xay xát, chế biến, cung ứng, xuất khẩu trong khi hầu hết nông dân bán lúa tại ruộng sau khi thu hoạch, nên thương lái đóng vai trò trung gian thu gom lúa ướt của nông dân tại ruộng, xử lí và bán lại cho doanh nghiệp lúa khô tại kho.

3. Về liên kết: Ở các huyện đã hình thành được một số mô hình cánh đồng mẫu, bước đầu thu được một số kết quả như tiết kiệm chi phí sản xuất, trình độ kỹ thuật canh tác của nông dân được nâng lên nhưng thực tế việc liên kết sản xuất còn lỏng lẻo, phát sinh nhiều khó khăn như: mối liên kết giữa doanh nghiệp với người nông dân trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm chưa bền vững (lợi nhuận chưa tương đồng); chưa có HTX, chỉ mới hình thành tổ hợp tác nhưng hoạt động còn yếu, rời rạc; chưa có chính sách thỏa đáng để hỗ trợ nông dân đẩy nhanh cơ giới hóa trong sản xuất; một số nông dân chưa nhận thức tầm quan trọng của sản xuất hàng hóa, xu thế tất yếu phải liên kết sản xuất và tiêu thụ trong nền kinh tế thị trường, chưa tin tưởng vào mô hình thí điểm, …

4. Định hướng hoạt động thời gian tới: Thống nhất với UBND các huyện Ba Tri, Thạnh Phú, Bình Đại và Giồng Trôm về thực hiện quy hoạch cánh đồng mẫu lớn/cánh đồng liên kết, chọn lựa các mô hình liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo thích hợp để phát triển và nhân rộng theo các mục tiêu liên kết sau: Tập hợp ruộng đất canh tác trên cánh đồng lớn, thích hợp với yêu cầu áp dụng kỹ thuật và thực hành canh tác tiên tiến, nâng cao năng suất và bảo đảm chất lượng; Xây dựng các vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao trên cơ sở chọn lựa 1-2 giống đáp ứng nhu cầu thị trường, sử dụng hạt giống xác nhận thích hợp, nâng cao giá trị và hiệu quả sản xuất, kinh doanh; Quản lý nguồn cung cấp và sử dụng vật tư nguyên liệu đầu vào thích hợp, bảo đảm hiệu quả và giảm giá thành sản xuất; Tăng cường mua lúa trực tiếp và kịp thời cho nông dân qua các hợp đồng bao tiêu của các doanh nghiệp, giảm bớt trung gian ép giá; Hỗ trợ nông dân nguồn cung ứng đầu vào và bán sản phẩm theo hợp đồng liên kết, ổn định sản xuất và tiêu thụ./.

Nguồn: Phòng QL XNK và HNKT
Lượt người xem:   765
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Media

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Lê Văn Khê - Giám đốc Sở Công Thương Bến Tre

Cơ quan chủ quản: Sở Công Thương Bến Tre - Địa chỉ: 71-77 Nguyễn Huệ, phường 1, TP. Bến Tre, Tỉnh Bến Tre
Email: sct@bentre.gov.vn