Skip Ribbon Commands
Skip to main content

Tin tức sự kiện

Thông tin doanh nghiệp
Thứ 6, Ngày 09/11/2018, 17:00
Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bến Tre
09/11/2018

 

Text Box: Ảnh minh họa (Nguồn: Phan Nhân)

Tính đến tháng 6 năm 2018, toàn tỉnh hiện có 2.590 doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chiếm khoảng 73,9% tổng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Với tỷ trọng lớn, áp đảo trong tổng số doanh nghiệp của tỉnh, DNNVV giữ vai trò quan trọng ổn định nền kinh tế và làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn. Thực vậy, DNNVV là nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại những thời điểm cho phép sẽ giúp cho nền kinh tế ổn định; cho nên DNNVV được ví như thanh giảm sốc cho nền kinh tế.

Hơn nữa, với quy mô nhỏ, cần ít vốn DNNVV có thể phát triển rộng khắp cả thành thị và nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển DNNVV ở địa phương sẽ góp phần hình thành điểm – cụm – khu công nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Tuy nhiên, so với tiềm năng, lợi thế về vị trí địa lý, kinh tế, chính trị và sức lan toả của các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre, các DNNVV còn gặp nhiều khó khăn về vốn để đổi mới công nghệ, đầu tư phát triển kinh doanh nên năng lực cạnh tranh kém.

image004.png 

Ảnh: Năng lực cạnh tranh của DNNVV tỉnh Bến Tre

(Nguồn: Trích số liệu phỏng vấn từ Đề án hỗ trợ DNNVV tỉnh Bến Tre năm 2018)

(1) Năng lực về vốn

Vốn là khó khăn lớn nhất mà các DNNVV khó khắc phục để mở rộng sản xuất kinh doanh. Kết quả khảo sát 244 DNNVV trên địa bàn tỉnh Bến Tre cho thấy có tới 85% doanh nghiệp đang gặp khó khăn về vốn. Trong khi đó, doanh nghiệp rất khó tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tài chính, có 71,3% doanh nghiệp chưa tiếp cập. Nguyên nhân là do các DNNVV chưa đáp ứng được các thủ tục như lập dự án khả thi, thế chấp và mức lãi suất cao. Thủ tục phức tạp và chi phí giao dịch cao đã làm cho DNNVV không muốn và không thể tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ, đặc biệt là từ các ngân hàng.

(2) Năng lực về khoa học và công nghệ

Công nghệ và thiết bị của DNNVV tại Bến Tre còn lạc hậu, tập trung vào gia công, sơ chế hoặc sản xuất sản phẩm đơn giản. Trong khi đó, trình độ ứng dụng và đổi mới khoa học công nghệ của các doanh nghiệp này rất thấp, có 86,6% doanh nghiệp còn áp dụng sản xuất thủ công và bán thủ công, chỉ 13,4% có áp dụng công nghệ cao, điều khiển tự động ở một số công đoạn trong sản xuất. Hạn chế này chủ yếu là do chi phí cao, e ngại rủi ro tiềm năng thị trường tiêu thụ và năng lực vận hành của người lao động.

(3) Năng lực về lao động

Lao động phổ thông được sử dụng chủ yếu trong các DNNVV, chiếm 85,2% doanh nghiệp. Lực lượng lao động này được đào tạo tại chỗ, nên thiếu kỹ năng và trình độ chuyên môn thấp. Nguyên nhân của những hạn chế này là do DNNVV có quy mô nhỏ, ít vốn, khó khăn trong nâng cấp trang thiết bị, công nghệ, phụ thuộc vào doanh nghiệp cung cấp và tiêu thụ sản phẩm, không có kinh nghiệm trong đào tạo lao động. Doanh nghiệp chưa chủ động liên kết với các cơ sở đào tạo, cho nên các chương trình đào tạo nghề cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tốn thời gian và kinh phí cho việc đào tạo lại lao động mới tuyển dụng.

(4) Năng lực về mở rộng thị trường

DNNVV đã sử dụng và kết hợp nhiều kênh tiếp thị để quảng bá sản phẩm. Kết quả khảo sát cho thấy có 12 kênh tiếp thị được sử dụng; trong đó nổi bật nhất vẫn là khách hàng truyền thống, có 88,9% doanh nghiệp đang áp dụng. Khoảng 30% doanh nghiệp đã xây dựng trang mạng riêng (website) phục vụ cho quảng cáo sản phẩm và xây dựng thương hiệu. Ngoài ra các kênh khác cũng được sử dụng với tỷ lệ khoảng 10%, như tiếp thị, ti-vi, mạng xã hội (facebook, zalo, website thương mại…), mở đại lý, trưng bày tại chỗ và chào hàng trực tiếp. Nhìn chung, DNNVV chưa chú trọng đến hoạt động tiếp thị sản phẩm, xây dựng nhiều kênh phân phối để mở rộng thị trường tiêu thụ.

(5) Năng lực quản trị của doanh nghiệp

Năng lực về quản trị của DNNVV tỉnh Bến Tre còn hạn chế trên nhiều khía cạnh, bao gồm hệ thống quản lý chất lượng, năng lực đổi mới sáng tạo, liên kết và hợp tác.

Thứ nhất là DNNVV thiếu kiến thức về quản lý, mô hình quản lý và kiểm soát chất lượng, có 82% doanh nghiệp không áp dụng các chứng chỉ quản lý chất lượng như ISO 9001, 14001, 22000,… và mô hình quản lý kiểm soát sản xuất hiện đại như HACCP, JIT, Kaizen, Lean…; đây là rào cản rất lớn cho doanh nghiệp khi muốn mở rộng thị trường, đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Khó khăn lớn nhất cho các doanh nghiệp khi áp dụng các hệ thống này là tài chính. Chi phí cho việc xây dựng và áp dụng các hệ thống thường cao hơn nhiều so với dự toán ban đầu của doanh nghiệp như thuê tư vấn, đào tạo nhân viên,… Trong khi đó, sự trợ giúp từ cơ chế, chính sách và các tổ chức thương mại chưa đủ để tạo sự thay đổi trong các doanh nghiệp.

Thứ hai là năng lực đổi mới sáng tạo của DNNVV còn nhiều hạn chế, có 82% doanh nghiệp không có cải tiến đáng kể nào về sản phẩm hoặc đặc điểm kỹ thuật trong 3 năm gần đây. Đa số DNNVV chưa quan tâm cải tiến sản phẩm, "trung thành" với sản phẩm truyền thống; điều này là do tâm lý e ngại thay đổi và rủi ro của thị trường. Quy trình sản xuất sản phẩm chưa chú trọng đầu tư nghiên cứu, áp dụng quy trình công nghệ mới. Các doanh nghiệp khảo sát chưa có bộ phận nghiên cứu và phát triển, ít doanh nghiệp chưa quan tâm đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu và quan hệ hợp tác giữa doanh nghiệp với viện trường cũng chưa được gắn kết.

Thứ ba là năng lực tạo lập các mối quan hệ (quan hệ với nhà cung cấp, nhà phân phối, tổ chức tín dụng và khả năng hợp tác, liên kết với các doanh nghiệp cùng ngành) của DNNVV còn rất hạn chế. Doanh nghiệp chưa chú trọng xây dựng các mối quan hệ với các doanh nghiệp khác, khả năng liên doanh, liên kết, hợp tác cùng phát triển rất thấp. Thực tế cho thấy 68,6% doanh nghiệp không tham gia vào các chuỗi liên ngang, liên kết dọc và cụm liên kết ngành; 75% doanh nghiệp không tham gia vào Hội và Hiệp hội. Hạn chế này là do tâm lý "Một mình một thuyền" vẫn ăn sâu trong tiềm thức của chủ doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV. Chủ doanh nghiệp không muốn chia sẽ hoạt động kinh doanh hoặc lợi ích với người khác. Bến tre có 73,9% doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng xu hướng liên kết để tạo ra các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn như công ty hợp danh, công ty cổ phần… còn yếu. Ngoài ra, mức độ liên kết, hợp tác còn thể hiện qua số lượng các hợp đồng liên kết sản xuất, thầu phụ, hợp đồng tiêu thụ, đại lý, mở chi nhánh… còn rất hạn chế. DNNVV cũng còn gặp nhiều khó khăn trong việc thiết lập các mối quan hệ  với các tổ chức tín dụng để tìm kiếm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tóm lại, năng lực cạnh tranh của DNNVV trên địa bàn tỉnh Bến Tre khá hạn chế. Các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn như thiếu vốn, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý, liên minh và liên kết giữa các DNNVV còn yếu. Cho nên, để nâng cao năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp trước hết phải tìm mọi biện pháp nâng cao các nhân tố ảnh hưởng này.

Nguồn: Phan Nhân


Lượt người xem:  359
Manage PermissionsManage Permissions
|
Version HistoryVersion History

Tiêu đề

Hình ảnh

Hình ảnh mô tả

Tóm tắt

Nội dung

Link thay thế nội dung

Ngày xuất bản

Tin nổi bật

Tác giả

Phân loại

Loại bài viết

Trạng thái

Lịch sử

Số lượt người đọc

Approval Status

Attachments

Content Type: Tin Tức Mở Rộng
Version:
Created at by
Last modified at by
Ảnh
Video
SỞ CÔNG THƯƠNG TỈNH BẾN TRE
Chịu trách nhiệm: Ông Lê Văn Khê - Giám đốc Sở Công Thương Bến Tre

Cơ quan chủ quản: Sở Công Thương Bến Tre - Địa chỉ: 71-77 Nguyễn Huệ, phường 1, TP. Bến Tre, Tỉnh Bến Tre
Email: sct@bentre.gov.vn